QUỐC TẾ
| Bài tin | Vài nét về báo Nhân Dân | RSS | E-mail | Trợ giúp |
Thứ hai, ngày 20 tháng 5 năm 2013 
+ Chữ to   - Chữ nhỏ     Bản in  
  In ra PDF


THẾ GIỚI PHẲNG

Đặc sắc kinh tế Việt Nam

Cập nhật lúc 10:05, Thứ tư, 21/03/2012 (GMT+7)

Việt Nam đang chuyển mình thành đất nước công nghiệp cao.   ( Ảnh: AFP )
 

Mới đây tạp chí Đối ngoại (AP) uy tín Mỹ đã đăng bài viết “Mười điều bạn chưa biết về sự trỗi dậy của Việt Nam” của hai tác giả: Marco Breu (Giám đốc Điều hành Văn phòng Đại diện McKinsey & Company tại Hà Nội) và Richard Dobbs (Giám đốc của McKinsey có trụ sở tại Seoul và là Giám đốc Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey - bộ phận nghiên cứu kinh doanh và kinh tế của McKinsey) đưa ra cái nhìn rất sắc sảo về những nét bản sắc độc đáo của nền kinh tế Việt Nam.

 

Đất nước Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh dài và gian khổ trước khi bước vào nền kinh tế thị trường, đây là điểm khác biệt lớn của Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực. Việt Nam đã phải trải qua một quá trình vận động của chính mình, đó là công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986.

Năm năm trở thành thành viên chính thức của WTO. Thực là thời gian không dài, nhưng Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng và t ạo được những thành công đặc biệt.

Theo đánh giá của cá nhân hai tác giả cũng như trong cái nhìn của tạp chí AP nói chung, Việt Nam đang phát triển nhanh nhất châu Á nếu không tính tới Trung Quốc, thu nhập đầu người tăng 5,3% mỗi năm, sự tăng trưởng được duy trì ngay cả trong những năm 1990, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và gần đây là sự suy thoái kinh tế toàn cầu ( kinh tế vẫn tăng trưởng 7% mỗi năm từ 2005-2010).

Nhìn vào Việt Nam, người ta cứ nghĩ đây là đất nước nông nghiệp, với các sản phẩm nông nghiệp được bán nhiều nơi trên thế giới, nhưng kỳ thực “đóng góp từ nông nghiệp vào GDP đã giảm từ 40 xuống còn 20% chỉ trong 15 năm, đó là sự khác biệt đối với các nước châu Á khác - Tờ AP nhận xét - Có thể so sánh, với sự thay đổi này T rung Quốc cần 29 năm và Ấn Độ cần 41 năm”.

Chỉ mười năm qua, những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ còn 13%, trong khi công nhân nhà máy tăng 9,6% và dịch vụ tăng 3,4%. “Những công nhân từ ruộng đồng đã đến với các nhà máy và lĩnh vực dịch vụ đã tạo ra sự đóng góp quan trọng giúp nến kinh tế phát triển mạnh mẽ và tạo ra sự khác biệt lớn trong lĩnh vực công nghiệp”. Rõ ràng Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một đất nước công nghiệp, khi ngành nông nghiệp đóng góp vào GDP giảm xuống 6,7% trong khi công nghiệp tăng lên 7,2 % chỉ trong một thập kỷ.

Người Việt Nam đi vào công nghiệp, nhưng không quay lưng lại với nông nghiệp mà phát triển nó ở một trình độ rất cao. Việt Nam đang dẫn đầu thế giới trong xuất khẩu tiêu, với 116.000 tấn gia vị t rong năm 2010 và dẫn đầu thế giới về xuất khẩu điều trong bốn năm liền. Đất nước cũng là nhà xuất khẩu gạo lớn thứ nhỉ thế giới sau Thái Lan và đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê chỉ sau Brazil với sản lượng gấp gần ba lần chỉ trong 4 năm. Việt Nam xếp thứ 5 thế giới trong lĩnh vực chế biến trà và thứ 6 về xuất khẩu thủy hải sản.

Trong quản lý điều hành, Việt Nam “không phải là Trung Quốc + 1”- tờ AP nhận xét. Người ta cho rằng Việt Nam sẽ trở thành một sân ga xuất khẩu lớn của châu Á - như là một Trung Quốc thu nhỏ hoặc Trung Quốc + 1. Nhưng Việt Nam có hai điểm khác biệt lớn so với Trung Quốc.

Trước hết, nền kinh tế Việt Nam có xu hướng tiêu dùng cá nhân lớn hơn Trung Quốc. Tiêu dùng cá nhân trong các hộ gia đình chiếm 65% GDP của Việt Nam - đây là con số đặc biệt cao ở châu Á. Ở Trung Quốc, ngược lại, tiêu dùng cá nhân chỉ khoảng 36 % GDP.

Thứ hai, trong khi Trung Quốc phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào xuất khẩu với sự đầu tư đặc biệt lớn thì nền kinh tế Việt Nam có sự cân bằng giữa sản xuất và dịch vụ, và mỗi ngành đóng góp 40% cho GDP.

Theo các tác giả phân tích thì sự phát triển của Việt Nam có nền tảng vững chắc, với một sự cạnh tranh thích hợp. Trong năm năm qua, sản lượng công nghiệp (bao gồm xây dựng, chế tạo, khai khoáng, và công ích) và khu vực dịch vụ đã tăng trưởng khoảng 8% mỗi năm.

Một nghiên cứu của Anh cho thấy Việt Nam là điểm thu hút đầu tư nước ngoài hấp dẫn chỉ sau Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng từ 3,2 tỷ USD năm 2003 lên 71,7 tỷ USD trong năm 2008 trước khi dừng lại do suy thoái kinh tế toàn cầu nó nằm ở mức 21,5 tỷ USD vào năm 2009.

Dòng vốn nước ngoài ở Việt Nam cũng khác với Trung Quốc. Gần 60 % vốn nước ngoài vào Trung Quốc tập trung trong lĩnh vực sản xuất, trong khi con số ở Việt Nam chỉ là 20%. Nguồn vốn đầu tư chủ yếu nằm ở lĩnh vực khai mỏ, khai thác đá, dầu và ga (40%) và bất động sản (15% đến 20%) và Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng về du lịch và dịch vụ. Số lượng khách nước ngoài du lịch tới Việt Nam tăng 1/3 kể từ năm 2005.

Tờ AP cũng cho rằng Việt Nam có cơ sở hạ tầng phát triển hơn Philippines hay Thái Lan. Việt Nam phát triển mạng lưới giao thông khá bài bản. Mạng lưới giao thông đạt 0,78 km trên một km2 vào năm 2009, con số này cao hơn so với Philippines hay Thái Lan. Cũng trong thời gian này, mạng lưới điện đã được phủ 96% đất nước. Các cảng Công ten nơ lớn ở Dung Quất, Cái Mép và sân bay quốc tế tại Đà Nẵng nằm ở miền trung hay sân bay Cần Thơ ở vùng đồng bằng Mekong đã kết nối Việt Nam với các bến cảng thế giới.

Một nét đặc sắc nữa trong kinh tế Việt Nam đó là chủ nhân của nó còn rất trẻ. Những người trẻ này thường xuyên sử dụng các công cụ thông tin mang tính toàn cầu.

Việt Nam có dân số trẻ, được giáo dục tốt và quan tâm đến internet. Điện thoại di động tại Việt Nam tăng 70% mỗi năm kể từ năm 2000-2010, trong khi ở Mỹ chỉ là 10% mỗi năm. Đến cuối năm 2010, Việt Nam có 170 triệu đăng ký thuê bao điện thoại với 154 triệu thuê bao di động.

Với tốc độ phát triển internet 31%, Việt Nam chỉ thua các nước châu Á khác như Malaysia (55%) và Đài Loan (72%). Nhưng tình hình này sẽ thay đổi nhanh chóng. Thuê bao băng thông từ 0,5 triệu năm 2006 đã lên tới 3,8 triệu vào năm 2010, cũng thời gian này thuê bao 3G đạt tới 7,7 triệu. “94 % người dùng internet để truy cập tin tức. Hơn 40% người dùng truy cập internet hàng ngày”. Như vậy, những người trẻ tuổi Việt Nam là công dân của thế giới phẳng.

Tờ báo uy tín của Mỹ cũng cho rằng Việt Nam sẽ trở thành một cường quốc về tin học. Việt Nam đã thuê hơn 100.000 nhân công trong lĩnh vực phần mềm, với tổng thu nhập của ngành hơn 1,5 tỷ USD mỗi năm. Nhiều công ty đa quốc gia đã khẳng định mở rộng sản xuất tại Việt Nam, như Hewlett-Packard, IBM, and Panasonic. Đất nước có tiềm năng trở thành một trong 10 nước hàng đầu trong lĩnh vực này. Các trường đại học cung cấp 257.000 nhân lực mỗi năm, với mức lương không cao lắm. Một công nhân phần mềm tại Việt Nam được trả không nhiều hơn 60% tiền lương ở Trung Quốc, chi phí xử lý dữ liệu và xử lý giọng nói ở Việt Nam thấp hơn 50 % so với ở Trung Quốc.

Ngành ngân hàng, một trong những cái nhiệt kế đo nền kinh tế thị trường, đang vận hành nhạy bén ở Việt Nam. Theo AP, các ngân hàng Việt Nam cho vay nhanh hơn các ngân hàng Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN khác.

Tổng dư nợ của các ngân hàng Việt Nam tăng 33% mỗi năm trong suốt thập kỷ qua, một mức tăng tưởng cao hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN. Năm 2010 dư nợ tín dụng của ngân hàng tương đương 120% GDP, trong khi năm 2000 chỉ bằng 22% GDP. Điều này cho thấy động lực mới của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa chính là sự năng động và điều tiết của hệ thống ngân hàng.

Tạp chí AP cũng lưu ý về vấn đề nhân lực trong tương lai. Thống kê cho thấy sự phát triển lực lượng lao động sẽ giảm xuống 0.6%/ năm trong thập kỷ tới (Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 2.8% trong giai đoạn 2000 - 2010). Để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, đã đến lúc Việt Nam cần chú ý tới việc tăng năng suất lao động, đặc biệt trong ngành sản xuất và dịch vụ. Đây cũng là vấn đề mà các nước phát triển gặp phải.

 

TAM LỆ (Tổng hợp)
         
 
THEO DÒNG SỰ KIỆN